Khái quát thị trường viễn thông tại Việt Nam.

Với diện tích 331,210 km2, dân số khoảng 93 triệu người, Việt Nam hiện có 05 nhà mạng cung cấp dịch vụ viễn thông: Viettel, Mobifone, Vinaphone, Vietnamobile, Gtel. Có khoảng 50 công ty hạ tầng trải dài trên khắp đất nước, các công ty này hầu hết là nhỏ và hoạt động độc lập. Trong khi đó, tại các khu vực nội thành ở Hà Nội và Hồ Chí Minh, các cột viễn thông được xây dựng tràn lan trên các mái nhà, khu vực ngoại thành, nông thôn tràn ngập các trạm dây co, phân bố đều từ cao nguyên tới khu vực duyên hải.

Theo Bộ Thông tin và Truyền Thông, Việt Nam hiện có khoảng 130 triệu thuê bao, trong đó có khoảng 68.8 triệu thuê bao 2G, 54.2 triệu thuê bao 3G và 7.3 triệu thuê bao cố định (báo cáo 30/06/2017)

Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho biết, tới giữa 2017, có khoảng 6.3 triệu thuê bao 4G. Trong khi đó, theo khảo sát của IDG (International Data Group), Việt Nam có khoảng 3.5 triệu thuê bao 4G, trong đó 88% tập trung ở Hà Nội và Hồ Chí Minh. Với dân số khoảng 93 triệu người, ước tính có khoảng 48 triệu thiết bị điện thoại thông minh được sử dụng tương đương khoảng 55%.

Theo báo cáo của Hiệp hội Thông Tin Di Động Thế Giới (GSMA), thuê bao di động của Việt Nam đã phát triển khoảng 150% từ quý 4/2014, hiện nay chính phủ đang có kế hoạch xóa bỏ khoảng 10 triệu sim rác đã được kích hoạt trước.

Với lượng thuê bao tăng trưởng ấn tượng, việc triển khai phủ sóng 3G và 4G hiện đang là ưu tiên hàng đầu và là yếu tố quyết định dẫn tới sự thành công của các nhà mạng. Chính phủ Việt Nam cũng đang có một loạt các chính sách hỗ trợ để triển khi mạng 4G, 5G nhằm xây dựng chính phủ điện tử, các khu đô thị thông minh, hỗ trợ nông nghiệp công nghệ cao.

 

Các nhà mạng tại Việt Nam

Trong các nhà mạng hiện tại, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội đang là đơn vị chiếm thị phần lớn nhất, các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước là Mobifone và VNPT lần lượt đứng thứ 2 và thứ 3. Chính phủ Việt Nam cũng đang có kế hoạch để cổ phần hóa Mobifone và VNPT trong năm 2018-2019.

Thị trường cũng chứng kiến dấu ấn nhỏ của 2 nhà mạng Vietnamobile ( công ty cổ phần của Viễn thông Hà Nội-HTC và tập đoàn Viễn thông châu Á Hutchison) và Gtel (thuộc sở hữu của Bộ Công An)

Thị trường 3G và 4G

Vào giữa năm 2016, chính phủ Việt Nam đã cho phép Viettel, Mobifone, VNPT (Vinaphone) và Gtel phát sóng 4G ở băng tần 1800 MHz, giấy phép thứ 5 đã được cấp cho Vietnamobile 2 tháng sau đó.

Sau khi có giấy phép, Vinaphone đã thử nghiệp phát sóng 4G tại Phú Quốc vào ngày 03/09/2016. Tới cuối năm 2017, Vinaphone đã lắp đặt khoảng 21,000 trạm BTS trên cả nước trong đó có khoảng 9,000 đầu thiết bị 3G.

Vào tháng 4/2017, Viettel đã chính thức cung cấp dịch vụ 4G LTE với mật độ phủ sóng tới 95% dân số, tổng cộng 36,000 trạm BTS được lắp đặt. Việc phát triển mạng lưới được đẩy mạnh sau khi các nhà mạng nhận giấp phép triển khai 4G với tộc độ download trung bình từ 30-50 Mbp, nhanh gấp 7-10 lần mạng 3G.

Tính đến cuối năm 2017, Viettel đã xây dựng và lắp đặt 35,000 đầu thiết bị 3G, 25,000 đầu thiết bị 2G, đồng thời nhà mạng này cũng đã xây dựng xong khoảng 350,000 km cáp quang. Tới cuối năm 2017, Viettel tuyên bố đã xây dựng được 37,000 trạm BTS trên phạm vi cả nước, phủ sóng 95% diện tích lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo.

Cùng với sự phát triển như vũ bão của Viettel, Mobifone cũng đã bắt đầu triển khai mạng 4G từ tháng 7/2017, tới thời điểm này Mobifone đã xây dựng thêm được 4,500 trạm BTS và dự kiến sẽ triển khai thêm khoảng 30,000 trạm BTS trong giai đoạn 2017-2018.

Vietnamobile là doanh nghiệp nằm ngoài cuộc đua vào thị trường 4G, bà Elizabete Fong đã từng tuyên bố vào năm 2016, cho rằng “ 4G chỉ phục vụ chủ yếu ở các thành phố lớn, ở các vùng nông thôn hay ngoại ô, khách hàng vẫn chủ yếu sử dụng dịch vụ 3G, 3G vẫn là dịch vụ phổ thông và công nghệ rẻ hơn. Vào cuối năm 2017, nhà mạng Vietnamobile đã hoàn thành triển khai 3G ở 63 tỉnh thành với diện tích phủ sóng tới 90% dân số. Nhà mạng cũng không có kế hoạch xây dựng mạng 4G trong một vài năm tới, với 40% dân số ở độ tuổi dưới 25, Vietnamobile sẽ cung cấp thêm các gói dịch vụ cho khách hàng trẻ tuổi trên nền tảng mạng 3G hiện có.

Nhìn nhận một cách tổng quan, công nghệ 4G khó có thể bứt phá thần tốc trong thời gian tới, một phần vì số lượng thiết bị đầu cuối (smart phone) có khả năng hỗ trợ 4G còn ít và có xu hướng tăng giá trong thời gian tới. Mặt khác, do một số khách hàng sẽ chuyển từ 3G sang 4G giúp cho chất lượng dịch vụ của mạng 3G sẽ được cải thiện, việc này giúp cho người dùng 3G sẽ có cơ hội để trải nghiệm chất lượng dịch vụ tốt hơn so với trước đây. Hơn nữa, cùng với mạng lưới cáp quang được phủ rộng, thiết bị Wi-fi cũng được cung cấp nhiều hơn, rẻ hơn, người dùng sẽ có thêm dịch vụ để trải nghiệm dịch vụ data. Vì những lý do này số lượng người dùng ngay lập tức chuyển từ 3G sang 4G sẽ không nhiều. Theo thống kê tới cuối quý 2/2017, Viettel đang chiếm lĩnh 52% thị trường 4G, đứng thứ 2 là Mobifone với 27% và Vinaphone với 21% (theo báo cáo của IDG Việt Nam)

 

Dùng chung cơ sở hạ tầng trạm BTS

Theo thống kê, hiện tại có khoảng 70,000 trạm BTS tại Việt Nam, số liệu này là 55,000 tại thời điểm tháng 6/2015. Việc quản lý, đầu tư hạ tầng viễn thông tại Việt Nam bị phân mảnh, với khoảng 10 nhà đầu tư lớn chiếm lĩnh thị trường, mỗi nhà đầu tư có khoảng 200 cột BTS, số lượng còn lại thuộc sở hữu của các nhà mạng.

Nhà đầu tư đến Malaysia là nhà đầu tư lớn nhất, hiện đang sở hữu khoảng 2,000 trạm BTS - Southest Asia Telecomunications Holdings Pte. Ltd (SEATH) được mua lại với mức giá khoảng 50 triệu USD vào đầu tháng 1/2017. Số cột này được đầu tư bởi VinaCapital trong thời gian hơn 10 năm, nhà đầu tư này cũng đã bán khoảng 120 hệ thống IBS trong các tòa nhà cho công ty JTOWER của Nhật Bản với giá 10.2 triệu USD vào mùa hè năm 2017.

Golden Tower cũng được biết đến là nhà đầu tư sở hữu hơn 350 trạm BTS và một nhà đầu tư dấu tên cũng đã đầu tư khoảng 600-700 cột phát sóng BTS. Toàn bộ giá thuê được ấn định bằng VNĐ với giá thuê ở mức cao hơn mặt bằng chung trong khu vực, hứa hẹn sự tăng trưởng trong tương lai. Do lạm phát và phát triển của Việt Nam, giá thuê đang tăng lên, bao gồm cả giá thuê mặt bằng.

Tỷ lệ dùng chung giữa các nhà mạng rất thấp, chỉ khoảng 1.2 tới 1.3 nhà mạng/ cột. Hiện tại không có quy định bắt buộc nào yêu cầu tất cả các nhà mạng phải dùng chung, các nhà mạng vẫn xây dựng hạ tầng riêng để đáp ứng nhu cầu của mình. Việc chia sẻ hạ tầng giữa các nhà mạng chủ yếu dừng ở việc trao đổi hơn là kinh doanh hạ tầng.

Hiện tại các nhà mạng vẫn tự triển khai đầu tư hạ tầng với bộ máy quản lý chồng chéo, đồng thời việc chia nhỏ quá nhiều giai đoạn cũng dễ mang tới những sự cố không mong muốn làm tăng chi phí và hiệu quả đầu tư.